Thông tin y dược » Bệnh tâm thần thường gặp
 
Đại cương sức khỏe tâm thần
Thứ ba, 07.15.2014, 10:34am (GMT+7)

ĐẠI CƯƠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN

 

I. KHÁI NIỆM VỀ SỨC KHOẺ TÂM THẦN

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới: “ Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về cơ thể, tâm thần và xã hội chứ không phải là không có bệnh hay có tật”.

Như vậy trong sức khoẻ có ba thành phần: sức khoẻ cơ thể, sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ xã hội. Ba thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau. Một người bị bệnh cơ thể nặng hoặc kéo dài như  bệnh ung thư, tiểu đường....cũng thường có rối loạn tâm thần kèm theo: buồn phiền, lo âu, cáu gắt, uể oải.... Ngược lại những bệnh tâm thần lâu ngày cũng có những rối loạn về cơ thể như rối loạn thần kinh thực vật: cơn đánh trống ngực, huyết áp dao động, vã mồ hôi...

Sức khoẻ tâm thần là trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái. Muốn có trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái cần phải có chất lượng cuộc sống tốt, có được sự cân bằng và hoà hợp gữa cá nhân, người thân xung quanh và môi trường xã hội.

Như vậy thực chất sức khoẻ tâm thần ở cộng đồng là:

- Có một cuộc sống thực sự thoải mái.

- Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác.

- Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống.

- Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ.

- Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng bằng căng thẳng( stres).

II. BỆNH TÂM THẦN VÀ RỐI LOẠN TÂM THẦN

Rối loạn tâm thần là do hoạt động ở não bộ bị rối loạn mà gây nên những biến đổi bất thường trong ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong....của người bệnh.

Hiện nay, trong ICD – 10 ( bảng phân loại bệnh lần thứ 10 của tổ chức Y tế  Thế giới), từ ngữ “bệnh tâm thần” chỉ dùng cho một số ít trạng thái tâm thần bệnh lý truyền thống (bệnh tâm thần phân liệt, bệnh Alzheimer....). Từ ngữ “rối loạn tâm thần” được dùng phổ biến (rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh, rối loạn trầm cảm....). Thay đổi cách gọi này xuất phát từ quan điểm bệnh học, nói đến một bệnh là nói đến trạng thái có bệnh nguyên, bệnh sinh rõ ràng. Nhưng trong tâm thần học chỉ có một số bệnh như bệnh tâm thần phân liệt, bệnh loạn thần hưng trầm cảm....tuy cơ chế bệnh nguyên và bệnh sinh không rõ ràng nhưng vẫn gọi là bệnh tâm thần nội sinh. Và hiện nay, đổi từ ngữ bệnh tâm thần thành rối loạn tâm thần, tuy không chính xác nhưng dùng nó để tránh đề cập đến cơ chế bệnh nguyên, bệnh sinh phức tạp.

Các bệnh và rối loạn tâm thần không phải là do ma quỷ, thần thánh gây ra, do đó không thể chữa bằng cúng bái, trừ tà ma.

Bệnh và rối loạn tâm thần là phổ biến. Xã hội càng phát triển, nguy cơ mắc bệnh càng tăng. Bệnh làm ảnh h­ưởng nhiều tới cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội. Do vậy việc phát hiện bệnh sớm, quản lí và điều trị kịp thời là rất quan trọng.

* Chú ý: phân biệt bệnh lý tâm thần và bệnh lý thần kinh

- Bệnh tâm thần và rối loạn tâm thần: là những rối loạn chức năng não bộ gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch nên bệnh nhân có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi tác phong không phù hợp với môi trường thực tại xung quanh. (ảo giác, hoang tưởng, kích động, buồn rầu, lo âu…..)

- Bệnh thần kinh: do nhiều nguyên nhân gây ra làm tổn thương tổ chức thần kinh (não bộ, tủy sống, dây thần kinh). Từ đó ảnh hưởng đến cảm giác, vận động và ý thức của người bệnh (liệt, tê bì, hôn mê,…..)

III. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY RA BỆNH TÂM THẦN

Các nguyên nhân chủ yếu thường được nêu ra bao gồm: 4 nhóm nguyên nhân

1. Các nguyên nhân thực tổn:

- Chấn thương sọ não.

- Nhiễm khuẩn thần kinh ( Viêm não, giang mai thần kinh ).

- Nhiễm độc thần kinh ( Nghiện các chất: rượu, ma tuý, nhiễm độc nghề nghiệp ).

- Các bệnh mạch máu.

- Các tổn thương não khác ( U não, teo não, xơ não rải rác,...)

- Các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động của não.

2. Các nguyên nhân tâm lý:

Con người gặp các sang chấn tâm lý :

- Yếu tố về kinh tế : kinh tế gia đình khó khăn, vỡ nợ, thất nghiệp, .....

- Yêu tố về tình cảm : bất hòa trong gia đình, trong công việc, ly hôn, ly thân, bạo lực gia đình, mất người thân đột ngột,....

- Yêu tố xã hội : môi trường sống bị ô nhiễm, thay đổi chỗ ở, thiên tai thảm họa, xảy ra tai nạn,.....

- Các trường hợp bị bắt cóc, tra tấn, hãm hiếp đặc biệt ở phụ nữ và trẻ em.

- Yếu tố về sức khỏe: bị bệnh lý cơ thể như các bệnh lý về nội tiết, tim mạch, ung thư,.....

Chủ yếu các stress tâm lý – xã hội tác động vào các nhân cách có đặc điểm riêng, gây ra:

- Các rối loạn tâm căn.

- Các rối loạn liên quan đến stress.

- Các rối loạn dạng cơ thể.

3. Các nguyên nhân cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm thần bệnh lý:

          Do tác động vào gen gây ra các bệnh lý như: 

- Chậm phát triển tâm thần.

- Nhân cách bệnh.

4. Các nguyên nhân chưa rõ ràng (hay là nguyên nhân nội sinh):

          Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác nhau ( di truyền, chuyển hoá, miễn dịch, ...) nên khó xác định được nguyên nhân chủ yếu. Các rối loạn tâm thần thường gọi là nội sinh như:

- Bệnh tâm thần thần liệt.

- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.

Do nguyên nhân chưa xác định rõ ràng nên công tác dự phòng và điều trị gặp nhiều khó khăn, các rối loạn thường kéo dài và hay tái phát.

Như vậy trong lâm sàng xác định nguyên nhân của một rối loạn tâm thần phải hết sức thận trọng và có xác định đúng nguyên nhân thì mới hy vọng điều trị có kết quả.

 

IV. MỘT SỐ BỆNH VÀ RỐI LOẠN TÂM THẦN THƯỜNG GẶP

1. MỘT SỐ BỆNH LÝ TÂM THẦN GẶP Ở TRẺ EM VÀ THIẾU NIÊN

1.1. Chậm phát triển tâm thần (CPTTT)

CPTTT không phải là một đơn thể bệnh mà là một nhóm trạng thái bệnh lí, khác nhau về bệnh nguyên và bệnh sinh nhưng có chung một bệnh cảnh lâm sàng, đó là sự trì trệ về phát triển tâm thần có tính chất bẩm sinh hoặc mắc phải chủ yếu trong ba năm đầu khi hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh về cấu trúc.

Đặc điểm chung của CPTTT là toàn bộ sự phát triển tâm thần nói chung (toàn bộ nhân cách) đều bị ảnh hưởng, nhưng nổi bật lên là hoạt động trí tuệ bị trì trệ, kém phát triển hoặc không phát triển được. Như vậy không phải riêng trí tuệ mà các hoạt động tâm thần khác đều bị ảnh hưởng.

Tỷ lệ mắc CPTTT khoảng 1%, trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ.

1.2. Tự kỷ

"Hội chứng tự kỷ" là một trong những Hội chứng rối loạn phát triển ở trẻ em. Hội chứng tự kỷ ở trẻ em được biểu hiện qua 3 loại hành vi sau:

+ Khiếm khuyết về quan hệ xã hội:

Trẻ tự kỷ rất hạn chế trong vấn đề giao tiếp xã hội. Ví dụ trong giao tiếp thì trẻ tự kỷ không giao tiếp bằng mắt, không có những giao tiếp "không lời" bằng những cử chỉ cơ thể. Tình cảm rất hạn chế ngay cả với bố mẹ và người thân trong gia đình. Không chia sẻ cảm xúc buồn vui, không quan tâm đến những hoạt động xung quanh trẻ.

+ Khiến khuyết về sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp:

Chậm, thậm chí rất chậm nói hoặc là nói xì xồ không rõ là tiếng gì. Có trẻ biết nói nhưng chỉ được vài câu như "bà", "mẹ"...còn lại là im lặng, những trẻ này không biết cách biểu đạt nguyện vọng bằng ngôn ngữ.

+ Chơi tưởng tượng:

Trẻ tự kỷ thường không thích chơi với bạn bè mà chỉ thích chơi một mình. Không đa dạng trong cách chọn trò chơi, chỉ theo một mô típ. Kỹ năng chơi hạn chế, lặp đi lặp lại một động tác. Chơi những đồ vật bất thường như tăm, đũa, điều khiển ti vi.... Gần 100% trẻ tự kỷ xem quá nhiều quảng cáo trên ti vi, tay chân hay vê xoắn, hay đi vòng quanh không có mục đích.

Nguyên nhân: bất thường về gen, nhiễm độc, yếu tố môi trường,….

1.3. Rối loạn tăng động giám chú ý – ADHD

Rối loạn tăng động, giám chú ý (ADHD) đặc trưng bởi sự giảm chú ý, hiếu động, tăng động so với trẻ cùng lứa tuổi và mức độ phát triển.

- Giảm chú ý:

+ Thất bại với sự tập trung chú ý vào các chi tiết hoặc có những lỗi bất cẩn trong các bài tập, việc làm, hoặc hoạt dộng khác.

+ Có khó khăn trong việc duy trì chú ý và hoàn thành các nhiệm vụ hoặc các hoạt động trò chơi.

+ Thường dường nhu không nghe khi được nói trực tiếp với mình.

+ Dễ bị phân tán bới các kích thích không liên quan.

+ Dễ mất các đồ vật của mình hoặc quên các hoạt động thường ngày.

- Tăng động:

+ Thường động đậy chân tay, vạn vẹo người khi ngồi.

+ Thường rời chỗ trong phòng hoặc trong các tình huống khi phải ngồi yên tại chỗ

+ Thường chạy hoặc leo trèo quá mức

+ Thường khó khăn chơi hoặc tham gia trong các hoạt động giải trí một cách im lặng

+ Thường nói quá mức

+ Thường như “đang đi trên đường” hoặc hành động như thể “bị mô tô rượt đuổi”.

- Xung động:

+ Thường thốt ra những câu trả lời trước khi câu hỏi được đặt xong

+ Thường có khó khăn trong việc đợi đến lượt

+ Thường làm gián đoạn hoặc nhập cuộc đường đột vào các hoạt động khác.

1.4. Các rối loạn hành vi của thanh thiếu niên (TTN)

Rối loạn hành vi được xếp ở mục F.91 (ICD-10) đó là những hành vi xâm phạm, bạo lực, gây thương tích, đâm chém, càn quấy, ... do những nguyên cớ không tương xứng; những hành vi trên tái diễn, lặp đi lặp lại kéo dài ở TTN.

Rối loạn hành vi của TTN có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây. Một nghiên cứu cho thấy rối loạn hành vi TTN 10-17 tuổi là 3,7 – 6 %; ở thành thị cao hơn ở nông thôn, trẻ trai nhiều hơn trẻ gái.

 

2. BỆNH TÂM THẦN THƯỜNG GẶP Ở THANH NIÊN VÀ NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

2.1. Tâm thần phân liệt (TTPL)

TTPL là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh h­ướng mãn tính, căn nguyên hiện nay ch­a rõ ràng, làm cho ng­ười bệnh dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng học tập làm việc ngày một sút kém, có những hành vi, ý nghĩ dị kỳ, khó hiểu.

Bệnh TTPL là bệnh khá phổ biến ở trên thế giới, tỷ lệ từ 0,3 – 1%, phát sinh ở lứa tuổi 18 – 40, tỉ lệ nam/ nữ là 1,2/1.

2.2. Trầm cảm

Trầm cảm là sự ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần, biểu hiện bằng các triệu chứng:

- Giảm khí sắc, buồn chán,

- Mất quan tâm thích thú,

- Giảm năng lượng, dễ mệt mỏi dù chỉ sau một cố gắng nhỏ,

- Suy nghĩ chậm chạp, ít hoạt động,

- Ngại tiếp xúc với mọi người.

Các triệu chứng khác như: giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tin, có ý tưởng bị tội, không xứng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan, ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng, giảm ham muốn về tình dục, lãnh cảm.

Tỷ lệ mắc khoảng 2- 5% dân số, nữ gặp nhiều hơn nam.

 

 

2.3. Lạm dụng chất, nghiện chất

- Lạm dụng chất trong đó có lạm dụng rượu và đặc biệt nghiện rượu, nghiện ma tuý đã trở thành hiểm hoạ của nhân loại.

- Trên 30% dân số Việt Nam có lạm dụng bia rượu và khoảng 3,5% là nghiện rượu.

- Nghiện ma tuý ở nước ta cũng như một số nước khác trong khu vực có một số đặc điểm nguy hại hơn như sau:

+ Đa số nghiện ma tuý là những người trẻ tuổi từ 16-35 chiếm 70-80%;

+ Nghiện các chất ma tuý nặng hơn, nguy hại hơn chủ yếu là heroin và các chất ma túy tổng hợp mới như ma túy đá (methamphetamin), thuốc lắc, Ketamin… gây ra các rối loạn tâm thần nặng như hoang tưởng, ảo giác, kích động,…

+ Có thể hỗn hợp về phương thức (Hút, hít, tiêm chích, ...) cũng như việc kết hợp nhiều loại ma tuý (Heroin, amphetamin, cocain, LSD 25, …);

+ Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều có người nghiện ma túy;

+ Vì tiêm chích bằng kim tiêm chung nên nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao, có những nơi 70 – 80% người nghiện ma tuý nhiễm HIV, viêm gan B, C...

2.4. Tự sát

Là một cấp cứu trong Y học và cũng là một cấp cứu rất đặc thù trong tâm thần học. Hàng năm trên thế giới có hàng trăm nghìn người chết do tự sát, có nhiều nước chết do tự sát còn nhiều hơn chết do tai nạn giao thông. Cứ 40 giây có một người thực hiện tự sát ở nơi nào đó trên thế giới, cứ 3 giây có một người doạ chết. Nam giới thực hiện tự sát nhiều hơn nữ nhưng nữ giới doạ tự sát nhiều hơn. Thường gặp ở người trẻ (15 – 35 tuổi) và người già (trên 70 tuổi).

Tìm hiểu nguyên nhân tự sát, nhiều tác giả nhận thấy như sau: 

+ Sự gia tăng tiềm ẩn các rối loạn tâm thần chưa phát hiện được sớm, kịp thời như trầm cảm, lo âu, hoảng loạn, nghiện rượu, ma tuý, rối loạn hành vi,...

+ Nhân tố tâm lý xã hội không thuận lợi (stress) như: Thất bại, đổ bể trong làm ăn, cạnh tranh thua lỗ; mâu thuẫn kéo dài giữa các thành viên trong gia đình không giải quyết được; cấu trúc gia đình bị đảo lộn: ly thân, ly hôn, các thành viên trong gia đình thiếu gắn bó, không có điểm nương tựa, người thân cha hoặc mẹ nghiện rượu; sự cô đơn ở những người cao tuổi.

3. BỆNH TÂM THẦN THƯỜNG GẶP NGƯỜI GIÀ

3.1. Sa sút trí tuệ (SSTT)

          SSTT là một hội chứng được đặc trưng bởi sự suy giảm nhiều chức năng cao cấp của vỏ não mà không có rối loạn ý thức. Thường gặp ở người già (trên 60 tuổi), rất hiếm gặp ở người trẻ và tuổi trung niên. Tuổi thọ con người càng cao thì quần thể người già càng chiếm tỷ lệ cao trong dân số và số người bị SSTT sẽ càng nhiều hơn.

          Nguyên nhân: SSTT thường gặp do bệnh Alzeimer, do bệnh lý mạch máu (nhồi máu não, xuất huyết não, trạng thái ổ khuyết,….), do nhiễm độc chất (rượu, kim loại nặng, các thuốc an thần gây ngủ, thuốc gây nghiện,…) và nhiểu nguyên nhân khác.

          Biểu hiện: suy giảm trí nhớ; giảm khả năng tư duy, phán đoán, rối loạn định hướng và ngôn ngữ; bệnh nhân thường biểu hiện báng quan hay mất ham thích hứng thú; giảm khả năng trong các công việc thường; mất kiểm soát cảm xúc – bệnh nhân có thể trở nên dễ buồn, dễ khóc, dễ bị kích thích. Các triệu chứng này gây suy giảm và trở ngại đáng kể cho các hoạt động nghề nghiệp, xã hội và cả các hoạt động sống hàng ngày của cá thể.

3.2. Trầm cảm ở người già:

          Người già thường hay gặp rối loạn trầm cảm với các biểu hiện như sau:

- Các triệu chứng về cảm xúc: buồn chán, bi quan,...

- Các triệu chứng về cơ thể: đau mỏi trong người, đặc biệt ở cơ, xương khớp.

- Rối loạn về hành vi: chậm chạp, kích động, kích thích, gây hấn, tự sát.

- Hoang tưởng: bị hại, bị theo dõi, ...

3.3. Các rối loạn tâm thần do bệnh lý cơ thể :

          Người già thường có các bệnh lý cơ thể: tim mạch, cơ xương khớp, nội tiết,... Những bệnh lý này thường dẫn đến các rối loạn tâm thần ở người già như: rối loạn lo âu, trầm cảm, mất ngủ thực tổn,…

V. PHÁT HIỆN SỚM CÁC BIỂU HIỆN CỦA BỆNH VÀ RỐI LOẠN TÂM THẦN

          Rối loạn tâm thần ở giai đoạn sớm thường có các biểu hiện như sau:

- Rối loạn giấc ngủ: Thay đổi so với những biểu hiện bình thường của chính họ trước đây, như khó khăn khi đi vào giấc ngủ, trằn trọc, thức dậy sớm hơn thường lệ. Bệnh nhân có thể mất ngủ kéo dài hàng tuần, hàng tháng, một số không thể duy trì giấc ngủ và thường thức trắng cả đêm. Một số bệnh nhân rối loạn chu kỳ thức ngủ: ngày ngủ, đêm thức (không phải do nghề nghiệp, thói quen hoặc lý do công việc đặc biệt khác).

- Thay đổi tính cách: Bệnh nhân thay đổi tính cách so với trước kia như dễ cáu giận hơn, giận dữ vô cớ, thậm chí kích động đập phá, đánh người vô cớ. Đặc biệt, có thể có sự thay đổi tình cảm, thái độ với người thân: xa lánh, thù ghét bố mẹ, anh em...

- Thay đổi trong nề nếp sinh hoạt hằng ngày: Người bệnh trở nên lười biếng hơn, ít hoặc ngại giao tiếp, không quan tâm đến người thân, bỏ bê công việc, mất hoặc không duy trì các thói quen, sở thích trước kia, không chăm sóc vệ sinh cá nhân.

- Thay đổi trong cách suy nghĩ: Bệnh nhân trở nên đa nghi hơn, hay nghi ngờ cả với người thân, thường có hành vi theo dõi, kiểm tra, …. Hoặc có những ý nghĩ không đúng, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Người bệnh còn có những ý nghĩ kỳ lạ, không thể giải thích được như: cho rằng có người đang theo dõi, hại mình và người thân của mình, hoặc có người biết mọi ý nghĩ của mình, chi phối mọi hành vi, việc làm của mình... Một số bệnh nhân lại cho rằng bản thân có khuyết điểm, tội lỗi không thể tha thứ, có thể nảy sinh ý tưởng và hành vi tự sát.

- Thay đổi trong cách nói: Một số trở nên trầm, ít nói hơn hoặc nói một mình như đang đối thoại với người khác. Có người lơ đễnh, không tham gia được câu chuyện với người khác, nói những câu vô nghĩa, không có nội dung, các chữ, câu không liên quan với nhau, hoặc nói không ăn khớp với hoàn cảnh. Nhiều trường hợp lại biểu hiện nói nhiều, nhại lời,…

- Thay đổi về hành vi, tác phong, sinh hoạt: Có những hành vi kỳ lạ, không phù hợp với hoàn cảnh hoặc không thể giải thích được như đứng sững nhìn mặt trời, lúc nào cũng giữ lâu một tư thế khó chịu, đi lang thang không có mục đích...

Kết luận: Tỷ lệ mắc các bệnh và rối loạn tâm thần, rối nhiễu tâm trí ngày càng gia tăng. Sức khỏe tâm thần là vấn đề cần được quan tâm và cộng đồng cũng có nhận thức rõ ràng hơn về khái niệm: “Không có sức khỏe tâm thần là không có sức khỏe”. Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho mọi người là một mục tiêu rất cụ thể, lý tưởng mang tính xã hội và phải phấn đấu từng bước để đạt được mục tiêu cuối cùng là “nâng cao chất lượng cuộc sống” của con người. Khi phát hiện các rối loạn tâm thần, trong trường hợp bệnh nhân còn nhận thức được bệnh của mình, nên xem xét kỹ các rối loạn này có từ bao giờ, có những nguyên nhân trong cuộc sống tác động đến hay không? Hãy bày tỏ với người thân về các rối loạn của mình để họ có thể trợ giúp hoặc đưa ra những lời khuyên hợp lý. Gia đình nên tìm hiểu kỹ những thay đổi ở bệnh nhân để động viên, chia sẻ và thông cảm, đưa đến ngay các trung tâm tư vấn tâm lý hoặc các phòng khám chuyên khoa tâm thần để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời.

 

Ths Vũ Minh Hạnh


Đánh giá (Lượt bình chọn: )   
    Bình luận (0)        Gửi bạn bè        Bản in     Edit


Các tin khác:
Phát hiện sớm chứng Tự kỷ (03.27.2014)
Trầm cảm ở người cao tuổi (01.19.2014)
Sức khỏe tâm thần người cao tuổi (09.30.2013)
Trầm cảm ở trẻ em (09.30.2013)
Rối loạn ám ảnh nghi thức (ám ảnh cưỡng bức) (07.31.2012)
Rối loạn hoảng sợ (07.31.2012)
Rối loạn stress sau sang chấn - PTSD (07.17.2012)
Phản ứng stress cấp (07.17.2012)
10 dấu hiệu của bệnh mất trí Alzeimer (07.11.2012)
CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU (07.10.2012)



 
::|Khu vực quản trị
User:
Pass:
Code
Remember me
::| Các tin mới nhất
::| Sự kiện
Tháng chín 2017  
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30