Thông tin y dược » Bệnh tâm thần thường gặp
 
CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU
Thứ ba, 07.10.2012, 02:35pm (GMT+7)

CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

I/ KHÁI NIỆM

          Lạm dụng rượu lâu ngày thường đưa đến chứng nghiện rượu, khi đó rượu trở thành tác nhân gây hại cho con người và để lại những hậu quả cho cá nhân và xã hội.

- Về mặt cơ thể rượu gây ra các bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày, viêm các dây thần kinh...

- Về mặt tâm thần rượu gây ra tình trạng phụ thuộc rượu, biến đổi nhân cách do rượu, loạn thần do rượu, mất trí do rượu...

          Trong những năm gần đây ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp loạn thần do rượu phải vào điều trị tại các cơ sở bệnh viện tâm thần. Bệnh lý do rượu đã chiếm một tỷ lệ đáng kể. Hiện nay tỷ lệ lạm dụng rượu vào khoảng 30% dân số, tỷ lệ nghiện rượu khoảng 3,5%.

II/ RƯỢU ĐỐI VỚI CƠ THỂ

1. Sự hấp thu và bài tiết rượu

          Mức độ hấp thụ của rượu tùy thuộc vào loại rượu, lượng uống rượu nhiều hay ít, lượng thức ăn đi kèm khi uống, thể trạng của người uống, tâm trạng khi uống...

          Rượu được hấp thu nhanh khoảng 20% số lượng rượu được vào cơ thể ngay qua dạ dày, số còn lại được hấp thu qua ruột. Cơ thể thường có phản ứng tự bảo vệ khi nồng độ rượu đưa vào quá cao, niêm mạc của dạ dày sẽ bị kích thích tiết ra chất nhày làm giảm bớt sự hấp thu, cùng lúc đó môn vị co thắt ngăn rượu không xuống ruột, làm cho người uống buồn nôn và nôn rượu ra ngoài. Thức ăn chất đạm và chất béo làm chậm sự hấp thu của rượu, trái lại nước uống sẽ làm tăng sự hấp thu của rượu, vào máu rượu được phân phối khắp cơ thể. Nhiễm độc rượu là khi nào nồng độ rượu trong máu trên 0,15% thể tích
Khoảng 10% số lượng rượu đào thải ra ngoài bằng đường hô hấp, phần lớn được khử ở gan và đào thải qua nước tiểu.

2. Rượu đối với não

          Rượu không phải là một chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Nhưng rượu làm mất ức chế mạnh hơn gây nên quá trình hưng phấn giả và vì vậy người uống rượu cảm thấy hưng phấn, đỡ lo âu, sợ hãi, hoạt động nhiều, nói nhiều, khả năng tự kiềm chế bản thân suy giảm nên lời nói thiếu tế nhị, xuồng xã, xàm xỡ, cử chỉ hoạt động thiếu chính xác.

          Khi nồng độ rượu trong máu là 0,3% thì vận động và tư duy, tri giác đều bị rối loạn. Khi nồng độ rượu lên tới 0,4% - 0,5% thì cả hai quá trình hưng phấn và ức chế đều bị suy giảm, người uống rượu bị bất tỉnh, hôn mê và khi nồng độ rượu lên đến 0,6% - 0,7% thì người uống rượu có thể tử vong.

3. Rượu ảnh hưởng đến các cơ quan khác

- Tác dụng lên tuyến yên, gây nên rối loạn sự tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hóa nước và muối khoáng.

- Gây viêm dạ dày, viêm tụy cấp, mãn tính.

- Tác hại đối với gan, gây xơ gan, thoái hóa mỡ gan.

- Các bệnh mạch máu,tim mạch, tăng lắng đọng choleterol ở mạch máu và ở tim gây xơ mỡ động mạch.

III. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

1. Say rượu thông thường

Say rượu thông thường hay say rượu đơn thuần là trạng thái nhiễm độc rượu cấp tính. Trạng thái này tiến triển thành ba giai đoạn, tuỳ theo độ rượu trong máu.

- Giai đoạn hưng phấn tâm thần - vận động (độ cồn trong máu = 1-2g/l)

Đặc trưng về lâm sàng là giảm ức chế, nói ba hoa, khí sắc không ổn định (khoái cảm không đúng lúc, đúng chỗ, buồn, dễ bị kích thích).

Biến đổi về thời gian phản ứng, về phán đoán và trí nhớ.

- Giai đoạn giảm phối hợp động tác (độ cồn trong máu >2g/l)

Đặc trưng bằng chứng lú lẫn tâm thần và hội chứng tiểu não (mất phối hợp vận động: dáng di lảo đảo, giọng nói lè nhè).

- Giai đoạn hôn mê (độ cồn trong máu >3g/l)

Hôn mê sâu, giãn đồng tử, mất phản ứng, hạ thân nhiệt, giảm huyết áp (nguy cơ trụy tim mạch).

2. Say rượu bệnh lý

Thể này rất ít gặp. Trong trạng thái say, có các biểu hiện:

+ hưng phấn - vận động: cơn giận dữ kịch phát không lý do hay vì một duyên cớ không đáng kể.

+ ảo giác (ảo thính, ảo thị): phân biệt với sảng rượu cấp.

+ hoang tưởng (ghen tuông, bị hại, tự buộc tội): nguy cơ xuất hiện cơn xung động đập phá, xâm hại bản thân hay xâm hại người khác.

+ cơn co giật liên quan với việc dùng rượu.

Đặc điểm khởi phát và tiến triển:

+ bắt đầu và kết thúc đột ngột (sau nhiều giờ tiến triển) bằng một giấc ngủ sâu; biểu hiện quên sau cơn; xuất hiện sau khi uống một lượng rượu lớn, nhưng cả khi chỉ uống một lượng rượu nhỏ;

+ nhân tố thuận lợi: có một bệnh tâm thần hay một bệnh não thực tổn; nhiều nguy cơ có hành vi nguy hiểm.

3. Nghiện rượu mạn tính

Chứng NR là trạng thái nhiễm độc rượu mạn tính do dùng rượu thường xuyên và nhiều năm. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp uống rượu thường xuyên đều xem là NR mạn tính.

Các triệu chứng đặc trưng là: hội chứng nghiện; hội chứng cai rượu; sự thay đổi mức dung nạp rượu; RLTT; biến đổi nhân cách và rối loạn toàn thân. Thời kỳ đầu, người NR chỉ dùng rượu từng lúc; sau đó thường thấy cơn cồn cào khó ở cả về buổi sáng nên phải uống rượu để làm hết cảm giác này; rồi xuất hiện tình trạng say liên miên, quên hết mọi sự. Thời kỳ này lượng rượu dùng rất lớn. Về sau, trong khi NR phát triển vì các rối loạn toàn thân nặng, buộc người nghiện phải giảm hoặc ngừng hẳn uống rượu. Cứ như vậy lúc tăng lúc giảm, lúc buộc phải ngừng rồi lại uống lại… cuối cùng người bệnh ngày càng suy nhược phải nằm tại giường.

Hội chứng nghiện: Chẩn đoán xác định  nghiện rượu khi có từ ba trở lên các đặc điểm sau: 

          1) Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng rượu.

          2) Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu.

          3) Một trạng thái cai sinh lý (xem phần hội chứng cai) khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hay bị giảm bớt.

          4) Có hiện tượng tăng dung nạp rượu (Người nghiện rượu có thể dùng hàng ngày những lượng rượu lớn đủ để làm say hoặc gây ngộ độc nguy hiểm cho những người không nghiện rượu).

          5) Dần dần sao nhãng các thú vui trước đây để đi tìm và sử dụng rượu, dành thời gian ngày càng nhiều hơn để tìm kiếm hay sử dụng rượu.

6) Tiếp tục sử dụng rượu mặc dù đã có hậu quả có hại đối với gan và nhiều cơ quan khác do uống rượu. Có các trạng thái khí sắc trầm tiếp theo sau những thời kỳ sử dụng rượu nặng, hoặc suy giảm nhận thức do tác hại của rượu.

4. Xung động uống rượu (dipsomania)

Xung động uống rượu là những cơn uống rượu xuất hiện theo chu kỳ, đây là rối loạn hiếm gặp. Biểu hiện:

Xung động uống rượu xuất hiện thành cơn kịch phát, kéo dài vài giờ, vài ngày đến vài tuần, khởi phát và kết thúc đột ngột.

Trong cơn có biểu hiện tăng mức dung nạp rượu. Ngoài cơn thì chán ghét rượu.

Không có hiện tượng suy thoái nhân cách do rượu dù giai đoạn bệnh tiến triển đã lâu.

Phân biệt với xung động uống rượu giả: cơn uống nhiều rượu ở người NR mạn tính.

5. Trạng thái cai rượu (F10.3)

- Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng rượu sau khi đã sử dụng rượu lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.

- Các triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với các đặc điểm của trạng thái cai.

- Các triệu chứng và dấu hiệu không thể quy kết cho một bệnh nội khoa không liên quan đến việc sử dụng rượu, và không thể quy cho một rối loạn tâm thần hoặc một rối loạn hành vi khác.

- Ba trong các dấu hiệu sau phải có mặt:

·        Run: lưỡi, mi mắt, và khi duỗi tay

·        Vã mồ hôi

·        Buồn nôn hoặc nôn ọe

·        Nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp

·        Kích động tâm thần vận động

·        Đau đầu

·        Mất ngủ

·        Cảm giác khó ở hoặc mệt mỏi

·        Các ảo tưởng, ảo giác về thính giác, thị giác hoặc xúc giác nhất thời.

·        Động kinh cơn lớn.

          Hội chứng cai rượu kéo dài từ vài giờ đến 3 - 4 tuần tùy mức độ nghiện rượu nặng hay nhẹ.

Chẩn đoán: Trạng thái cai rượu không có biến chứng (F10.30); trạng thái cai rượu với co giật (F10.31) nếu có co giật.

6. Trạng thái cai rượu với mê sảng (Sảng rượu cấp)

Sảng rượu là một rối loạn loạn thần cấp tính xuất hiện ở những bệnh nhân NR mạn tính trên 10 năm (giai đoạn 2) sau khi uống một lượng rượu lớn hoặc ngừng uống rượu đột ngột 1 dến 3 ngày (cai rượu). Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần, nếu không được điều trị tỉ lệ tử vong là 20%. Các nhân tố thuận lợi là viêm phổi, suy thận, suy gan, suy tim, bệnh tiêu hoá....

Khoảng 1/3 số trường hợp có hội chứng cai rượu sẽ tiến triển sảng rượu. Các triệu chứng của sảng rượu rất đa dạng:

× Tiền triệu (2 – 4 ngày): run, chán ăn, khát nước, lo sợ.

× Mất ngủ hoàn toàn với biểu hiện mộng thức và kích động.

× Hội chứng paranoid rất rầm rộ với HT bị hại và ảo thị (nhìn thấy các động vật nhỏ như chim, chuột, dơi, kiến, hiếm hơn có các ảo thị ghê rợn gây lo lắng, sợ hãi); có thể có ảo thanh thật có nội dung đe doạ, lăng nhục; ảo giác xúc giác với cảm giác có sâu bọ, côn trùng bò trên da thịt của mình.

× Rối loạn ý thức thường tăng về ban đêm hoặc về sáng sớm với mức độ khác nhau (về định hướng không gian, thời gian) có thể đến mức ý thức u ám và hôn mê.

Ngoài ra có thể gặp các rối loạn thần kinh thực vật (run, giảm trương lực cơ, xung huyết da, tăng tiết mồ hôi, tim đập nhanh, huyết áp dao động) và cơn co giật kiểu động kinh cũng như hành vi tự sát. Các bệnh cơ thể cũng biểu hiện rõ rệt như nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, viêm tuỵ, viêm túi mật.

Chẩn đoán: Trạng thái cai rượu với mê sảng không có co giật (F10.40); trạng thái cai rượu với mê sảng có co giật (F10.41).

7. Rối loạn loạn thần do rượu (F10.5)

- Khởi phát của các triệu chứng loạn thần phải xảy ra trong khi hoặc trong vòng hai tuần có sử dụng rượu.

- Các triệu chúng loạn thần phải tồn tại hơn 48 tiếng.

- Sự kéo dài của rối loạn này không vượt quá 6 tháng.

Chẩn đoán có thể biệt định kỹ hơn, cụ thể:

+ Rối loạn loạn thần do rượu giống phân liệt (F10.50)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế (F10.51)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế (F10.52)

+ Rối loạn loạn thần do rượu chủ yếu đa dạng (F10.53)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế (F10.54)

+ Rối loạn loạn thần do rượu với các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế (F10.55)

+ Rối loạn loạn thần do rượu  trạng thái hỗn hợp (F10.54)

7.1. Rối loạn loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế (F10.52) (Trạng thái AG do rượu)

Trạng thái AG do rượu có các đặc điểm sau:

Ảo thanh chiếm ưu thế (tiếng nói đe doạ, lăng nhục);

Ảo thanh chi phối hành vi, bệnh nhân mất khả năng phê phán AG. AG dẫn đến các hành vi có tính chất nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh (đập phá, đốt nhà, giết người, tự sát);

Không có rối loạn ý thức;

Tiến triển cấp tính (vài ngày đến 1 tháng), bán cấp (1-3 tháng) hay mạn tính (trên 3 tháng);

Đôi khi có HT bị truy hại, HT liên hệ nhất thời.

7.2. Rối loạn loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế (F10.52) (Hoang tưởng do rượu)

Paranoia do rượu thường gặp là HT ghen tuông, phát triển dần trên một nhân cách thoái hoá do rượu; Paranoid do rượu phần nhiều là HT bị truy hại và các HT cảm thụ. HT ghen tuông và HT bị truy hại là những triệu chứng chủ yếu. Nội dung của HT liên quan đến các sự vật có thật xung quanh bệnh nhân như vợ, con, hang xóm, đồng nghiệp và bạn bè. Người bệnh rất đa cảm, luôn hoảng sợ, HT thường chi phối hành vi và thường là hành vi tấn công người khác. Các ảo thanh hoặc ảo thị thường kèm theo hoảng sợ. Các HT có thể tiến triển cấp tính (3-4 tuần), bán cấp tính (2-3 tháng) hoặc mạn tính (trên 3 tháng đến hàng năm).

8. Bệnh loạn thần Korsakov – Hội chứng quên

Đây là một bệnh não thực tổn xuất hiện vào giai đoạn cuối của bệnh NR. Biểu hiện chủ yếu là:

Hội chứng mất nhớ nặng (không tiếp nhận được các thông tin mới, nhớ bịa);

Viêm nhiều dây thần kinh do thiếu các vitamin nhóm B.

9. Giả liệt tuần tiến do rượu

Đây cũng là một bệnh não thực tổn mạn tính do rượu, rất nặng nhưng hiếm gặp. Bệnh cảnh lâm sàng giống như bệnh liệt toàn thể tiến triển do giang mai. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vitamin nhóm B trầm trọng. Biểu hiện giảm chú ý, giảm trí nhớ, HT khuếch đại, tổn thương thần kinh khu trú (yếu đầu chi, khó nói, rối loạn phản xạ). Các rối loạn này tiến triển ngày càng nặng cả khi trạng thái nhiễm độc rượu đã qua, điều trị không có kết quả.

10. Giả viêm não Gayet – Wernicke

Bệnh não thực tổn do rượu Gayet – Wernicke là một bệnh mạn tính, hiếm gặp, biểu hiện bằng trạng thái lú lẫn, hưng phấn ngôn ngữ, vận động, cơn co giật kiểu động kinh, rối loạn trí nhớ kiểu Korsakov và các tổn thương khu trú thần kinh (mất phối hợp vận động, triệu chứng ngoại tháp, rối loạn vận nhãn).

IV. ĐIỀU TRỊ

1. Điều trị trạng thái cai rượu

-         Cắt rượu hoàn toàn.

-         Sử dụng Benzodiazepine đường tiêm hoặc đường uống: Seduxen x 10 – 20 mg/ngày tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, hoặc uống.  Có thể dùng alprazolam (Xanax), và lorazepam (ATIVAN).

-         Bù nước - điện giải cho bệnh nhân đầy đủ, kịp thời: Ringer lactat, NaCl 0,9%, Glucose 5%  truyền tĩnh mạch (2-4 lít/ngày), uống Orezol.

-         Vitamin nhóm B liều cao: vitamin B1 x 500-1000mg/ ngày, vitamin B6 x 200-400mg/ngày, vitamin B12 1000-2000 µcg/ngày.

-         Thuốc hỗ trợ: Chẹn Beta chẳng hạn như propranolol (Inderal) và atenolol (TERNOMIN), đôi khi được sử dụng kết hợp với benzodiazepines. Nó làm chạm nhịp tim và giảm run, cũng có thể làm giảm cơn thèm rượu. Có thể dùng Clonidin làm giảm trạng thái cai.

-         Sử dụng thuốc kháng động kinh nếu có co giật: Carbamazepin, Depakin, Phenobarbital,...

-         Nếu trạng thái cai rượu với mê sảng, hoang tưởng ảo giác rầm rộ: dùng Haloperidol 5mg x 1-2 ống/lần x 1-2 lần.

-         Điều trị các bệnh cơ thể kết hợp.

-         Đảm bảo thông khí, đề phòng trụy tim mạch.

-         Đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho bệnh nhân.

-         Điều trị chống tái nghiện: Disulfiram (Esperal), Naltrexon, Acamprosate, điều trị tâm lý xã hội.

2. Điều trị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu

- Thuốc an thần kinh:

          Haloperidol 5 – 20 mg/ngày

          Risperidon 2 - 6 mg/ngày

          Olanzapin 10 – 20 mg/ngày

          Solian 200 – 600mg/ngày

          Quetiapine 100 – 600 mg/ngày

- Thuốc giải lo âu, gây ngủ: Benzodiazepine,…

- Thuốc chống trầm cảm (nếu có):

          Fluoxetin 20 – 40 mg/ngày

          Paroxetin 20 mg/ngày

          Sertralin 50 – 150mg/ngày

          Venlafaxin 75 – 150 mg/ngày

- Thuốc chỉnh khí sắc: Depakin, Carbamazepin,…

- Thuốc hỗ trợ: Vitamine nhóm B, Piracetam, …..

3. Điều trị chống tái nghiện:

Để giúp người nghiện cai được rượu, trong y học có dùng một số thuốc.

- Naltrexon (các biệt dược: danapha, nalorex, trexan…).

Bản chất naltrexon là thuốc đối kháng với morphin. Người ta thường dùng thuốc này để hỗ trợ cai nghiện ma túy. Để cai nghiện rượu, một số nước có dùng natrexon cho người nghiện rượu uống hàng ngày. Thuốc được cho là có tác dụng sửa chữa rối loạn hệ thần kinh như làm tăng hoạt động của chất sinh học dẫn truyền thần kinh là GABA, làm giảm sự thèm rượu của người nghiện. Tuy nhiên, hiệu quả không cao vì người nghiện rất khó tuân thủ điều trị dài ngày. Viên: 50 mg, liều dùng: 50 mg/ngày, uống hàng ngày hoặc 100 mg uống cách nhật.

- Disulfiram (các biệt dược: esperal, abstinyl, antabuse, anticol, refusal…).

Đây là loại thuốc theo kiểu “lấy độc trị độc” (có bán trên thị trường) dùng để cai rượu nhưng tiềm ẩn nhiều mạo hiểm, nếu không có sự điều trị và theo dõi của thầy thuốc, thì không được tự ý sử dụng. Cơ chế tác dụng của thuốc như sau: khi uống rượu vào cơ thể, nó được chuyển hóa qua nhiều giai đoạn, trong đó có chuyển thành chất acetaldehyd rồi sau đó chuyển thành carbonic (CO2) và nước (H2O) để được loại ra khỏi cơ thể. Vì acetaldehyd rất độc sẽ làm cho người đã uống disulfiram mà lại uống rượu sẽ bị ngộ độc như: tim đập nhanh, buồn nôn, nôn mửa, mặt đỏ bừng, vã mồ hôi, nhức đầu chóng mặt, hạ huyết áp… Chính những tác động rất khó chịu này khiến cho người nghiện rượu thấy ghê sợ rượu mà không muốn uống nữa. Nếu dùng disulfiram đúng liều, đúng cách, có sự chỉ dẫn và theo dõi của bác sĩ điều trị thì thuốc chỉ gây độc ở mức khó chịu có giới hạn làm cho người nghiện chán rượu. Nhưng nếu tự ý dùng không đúng thì nó có thể gây ra tai biến trầm trọng, nguy hiểm tới tính mạng. Bởi vậy muốn cai rượu, người nghiện cần phải khám sức khỏe, nếu có một số bệnh tim mạch, xơ gan, suy thận, suy tuyến giáp, động kinh, đái tháo đường, phụ nữ có thai… thì không dùng được disulfiram.

Để trị được chứng nghiện rượu, thuốc phải dùng lâu dài để đạt tới phản xạ có điều kiện nhìn thấy rượu là sợ, nhưng điều tiên quyết là người nghiện rượu phải có ý chí, quyết tâm cai rượu, tránh tái nghiện. Đặc biệt người trong gia đình (vợ chồng, cha mẹ, anh em…) không nên mua disulfiram trộn vào rượu, người nghiện không biết uống vào, thì các triệu chứng ngộ độc sẽ diễn ra ở mức rất nặng phải đi cấp cứu như nhiều trường hợp đã từng xảy ra trong những năm vừa qua.

- Ngoài ra, còn có metronidazol (thuốc điều trị ký sinh trùng đơn bào và các vi khuẩn kỵ khí) với các biệt dược như klion, medazol, nidazol… cũng có thể dùng vào cai nghiện rượu. Metronidazol cũng có tác dụng ức chế chuyển hóa rượu gây ra các sản phẩm chuyển hóa dở dang giống disulfiram, làm cho người nghiện sợ uống rượu.

- Acamprosal (các biệt dược: aotal, zulex, dẫn xuất muối Ca: campral).

Đây là thuốc mới dùng để cai rượu. Cơ chế làm giảm sự uống rượu hiện nay vẫn chưa được giải thích một cách rõ ràng, nhưng thuốc được thừa nhận làm giảm sự thèm muốn uống rượu, đặc biệt khi có sự hỗ trợ của bác sĩ. Mấy năm trước đây, Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm FDA (Mỹ) đã chính thức cho phép lưu hành thuốc acamprosal vào việc chữa nghiện rượu. Khác với disulfiram, acamprosal không gây độc khi đang uống thuốc mà vẫn uống rượu. Thuốc không bị chuyển hóa ở gan vì vậy không cần giảm liều đối với người bệnh suy gan. Tuy vậy, thuốc cũng có một số tác dụng phụ như: nhức đầu, buồn nôn, chán ăn, tiêu chảy, mất ngủ, mẩn ngứa…

- Amitryptilin (các biệt dược: elavil, lavate, meravil…) là loại thuốc chống trầm cảm, an dịu mạnh. Người nghiện rượu dùng thuốc này sẽ không bị hội chứng cai, không bị trầm cảm, ăn ngủ tốt, hạn chế tìm đến rượu. Nhưng điều căn bản là người nghiện phải có quyết tâm từ bỏ rượu và dùng thuốc để hỗ trợ cai nghiện. Viên 25 mg, liều lượng:  25 – 100 mg tùy theo đáp ứng của từng người bệnh.

 Người nghiện rượu rất dễ tái nghiện, nếu không dùng thuốc thì trong một thời gian ngắn đâu sẽ vào đấy, cần phải điều trị phòng tái phát lâu dài và đòi hỏi người nghiện phải có ý chí, quyết tâm cao từ bỏ rượu. Tất cả các thuốc điều trị nghiện rượu đều có tác dụng phụ với mức độ khác nhau, thậm chí nặng nề, chứ không có thuốc nào hoàn toàn vô hại. Bởi vậy, tốt nhất phải được bác sĩ khám để có các chỉ định dùng thuốc cai rượu một cách thích hợp. Và nếu được dùng thì phải theo đúng chỉ dẫn.

 

Ths Vũ Minh Hạnh


Đánh giá (Lượt bình chọn: )   
    Bình luận (0)        Gửi bạn bè        Bản in     Edit


Các tin khác:
RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC (07.10.2012)
RỐI LOẠN GIẤC NGỦ (07.09.2012)
Làm thế nào để có giấc ngủ tốt? (07.09.2012)
Nhận biết trẻ tự kỷ (07.05.2012)
Trầm cảm ở người già (07.05.2012)
Trầm cảm ở trẻ em (07.05.2012)
Lâm sàng và điều trị Rối loạn dạng cơ thể (07.04.2012)
Bệnh tâm thần phân liệt (03.11.2011)
ĐỘNG KINH (03.07.2011)



 
::|Khu vực quản trị
User:
Pass:
Code
Remember me
::| Các tin mới nhất
::| Sự kiện
Tháng chín 2017  
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30