Thông tin y dược » Bệnh tâm thần thường gặp
 
Rối loạn tăng động giảm chú ý
Thứ tư, 10.07.2015, 09:02pm (GMT+7)

TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý

THEO DSM-IV VÀ ICD 10

1. Chẩn đoán xác định

Nguyên tắc chỉ đạo, chẩn đoán

Chẩn đoán tăng động giảm chú ý dựa vào các điểm chính sau đây:

 Phải có cả hai tiêu chuẩn giảm chú ý và tăng động - xung động

 Cả hai rối loạn đều xuất hiện sớm trước 5 tuổi (ICD – 10), trước 7 tuổi (DSM – IV) và biểu hiện phải rõ rệt so với độ tuổi và thời kỳ phát triển

 Các rối loạn đó phải lan tỏa trong nhiều môi trường (gia đình, nhà trường, xã hội) và kéo dài ít nhất 6 tháng.

- Phải có bằng chứng rõ ràng các rối loạn này ảnh hưởng bất lợi cho hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến quan hệ bàn bè giảm sút khả năng học tập, trở ngại trong những việc làm phù hợp với tuổi phát triển

 Các rối loạn đó không phải do tự kỷ, tâm thần phân liệt hay các rối loạn liên quan đến sức khỏe tâm thần khác như: rối loạn cảm xúc, lo âu, rối loạn phân ly, rối loạn nhân cách…)

Các tiêu chuẩn chẩn đoán

Chẩn đoán tăng động giảm chú ý theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM - TR - IV như sau:

a. Giảm chú ý: có 6  (hoặc nhiều hơn) trong các triệu chứng sau của giảm chú ý, biểu hiện kéo dài ít nhất 6 tháng với mức độ làm trẻ thích ứng kém hoặc không phù hợp với mức phát triển tâm thần:

1. Thường không thể chú ý kỹ lưỡng vào các chi tiết, hoặc phạm những lỗi do cẩu thả trong học tập, trong công việc hoặc trong các hoạt động khác.

2. Thường khó khăn duy trì sự chú ý trong nhiệm vụ hoặc trong các hoạt động chơi.

3. Thường biểu hiện dường như không lắng nghe những gì người khác nói trực tiếp với trẻ .

4. Thường không thể làm theo toàn bộ những chỉ dẫn hoặc không hoàn thành bài tập, công việc trong gia đình, những nhiệm vụ ở nơi làm việc (không phải vì hành vi chống đối hoặc không hiểu được các chỉ dẫn).

5. Thường khó khăn trong cách tổ chức công việc và các hoạt động.

6. Thường tránh né, không thích hoặc miễn cưỡng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi phải duy trì những nỗ lực tinh thần (như làm bài tập trường hoặc ở nhà).

7. Thường đánh mất những vật dụng cần thiết (như vở bài tập ở trường, bút chì, sách, đồ chơi và các dụng cụ khác).

8. Thường dễ bị sao nhãng bởi những kích thích bên ngoài.

9. Thường quên các hoạt động hằng ngày.

b. Tăng hoạt động: 6 (hoặc nhiều hơn) trong các triệu chứng của tăng hoạt động – xung động phải xuất hiện ít nhất 6 tháng với mức độ làm trẻ thích ứng kém hoặc không phù hợp với mức độ phát triển tâm thần.

Tăng hoạt động

1. Cử động chân tay liên tục hoặc không ngồi yên.

2. Rời khỏi chỗ trong lớp hoặc trong các tình huống khác mà cần phải ngồi yên một chỗ.

3. Thường chạy quanh hoặc leo trèo quá mức trong các tình huống mà điều đó là không thích hợp (ở thanh thiếu niên, có thể chỉ biểu hiện cảm giác bồn chồn).

4. Thường khó khăn trong khi chơi hoặc gặp khó khăn trong các hoạt động yêu cầu giữ yên lặng.

5. Thường hoạt động liên tục hoặc hoạt động như được “gắn động cơ”.

    Sự xung động

1. Thường buột miệng nói câu trả lời trước khi các câu hỏi được đặt ra hoàn chỉnh

2. Thường không thể khó khăn chờ đợi theo hàng hoặc chờ đến lượt trong các trò chơi lần lượt hoặc trong các tình huống sinh hoạt nhóm.

3. Thường ngắt lời hoặc xâm phạm vào vấn đề của người khác (Ví dụ: xen vào cuộc nói chuyện của người khác hoặc các trò chơi của trẻ khác).

Lưu ý: Nhiều tác giả còn xác nhận những rối loạn dưới ngưỡng chẩn đoán của rối loạn tăng động. Những đứa trẻ đáp ứng các tiêu chuẩn theo những cách khác nhưng không biểu hiện những bất thường của sự tăng động/ xung động có thể được xác nhận là có biểu hiện suy giảm sự chú ý; ngược lại, những đứa trẻ thiếu các tiêu chuẩn đối với các rối loạn sự chú ý nhưng lại đáp ứng các tiêu chuẩn của những khía cạnh khác có thể được xác nhận là có biểu hiện của rối loạn hoạt động. Với cùng cách thức như vậy, những đứa trẻ đáp ứng các tiêu chuẩn trong một hoàn cảnh duy nhất (ví dụ: chỉ ở nhà hoặc chỉ ở trường) có thể được coi là có biểu hiện rối loạn đặc hiệu ở nhà hoặc ở trường. Các rối loạn này vẫn chưa được bao gồm trong phân loại chính bởi vì cơ sở dự đoán mang tính kinh nghiệm là không đủ, và còn bởi vì nhiều đứa trẻ có các rối loạn dưới ngưỡng lại biểu hiện những hội chứng khác (như là rối loạn bướng bỉnh chống đối, F91.3) và nên được phân loại vào mục bệnh phù hợp.

Phân loại các thể tăng động giảm chú ý:

Rối loạn tăng động giảm chú ý, thể phối hợp

Rối loạn tăng động giảm chú ý, thể giảm chú ý chiếm ưu thế

Rối loạn tăng động giảm chú ý, thể tăng hoạt động chiếm ưu thế


2. Chẩn đoán phân biệt

2.1. Hiếu động (hoạt động tăng) ở trẻ em dưới 3 tuổi. Trẻ em có hoạt động tăng trước 3 tuổi là biểu hiện phát triển bình thường của độ tuổi, đây là giai đoạn trẻ tăng cường hoạt động khám phá thế giới xung quanh.

2.2. Rối loạn hành vi ứng xử khác, rối loạn chống đối nguyên phát

(F91.2, F91.3) Nét đặc trưng của các hành vi ứng xử này là mô hình hành vi lặp lại dai dẳng vi phạm các quyền cơ bản của người khác hoặc chuẩn mực xã hội không phù hợp với lứa tuổi, chẩn đoán phân biệt dựa trên nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán trên khi các biểu hiện rối loạn hành vi tăng động. Nghiên cứu kỹ lịch trình khởi phát, các triệu chứng và sự tiến triển để phân biệt.

2.3. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực khởi phát sớm: sự khác nhau giữa tăng động giảm chú ý và rối loạn lưỡng cực ở trẻ em trước 3 tuổi rất khó phân biệt, phần lớn trẻ đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán hưng cảm vừa đáp ứng tiêu chuẩn tăng động giảm chú ý vì ở đây rất có thể có sự song trùng của một hệ thần kinh trung ương chưa trưởng thành với biểu hiện tổn thương thị giác vận động – tri giác thường gặp trong rối loạn tăng động.

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực có đặc tính chu kỳ xuất hiện giữa hai giai đoạn hưng cảm và trầm cảm hoặc các đợt hưng cảm, giữa hai giai đoạn bệnh lý người bệnh hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên ở trẻ em rối loạn lưỡng cực dường như không có quy luật cảm xúc mà là sự kết hợp giữa hưng phấn, trầm cảm và trạng thái kích thích. Các hội chứng này giống với các triệu chứng vui, buồn thất thường thay đổi theo giờ, ngày và tuần của tăng động giảm chú ý. Mặc dù vậy đặc tính phân biệt của rối loạn lưỡng cực là tăng khí sắc và khoái cảm.

2.4. Rối loạn phát triển lan tỏa (tự kỷ) trẻ em

Cả hai rối loạn đều giống nhau ở đặc trưng thiếu các kỹ năng thích ứng xã hội tuy nhiên bệnh lý tự kỷ có các dấu hiệu khác với tăng động giảm chú ý như là khiếm khuyết ngôn ngữ mang tính toàn diện, hành vi thói quen động tác rập khuôn, định hình lặp đi lặp lại, sự phát triển bất thường của tự kỷ khởi phát sớm, thường xuất hiện trước 3 tuổi.

2.5. Loạn thần trẻ em (tâm thần phân liệt) có biểu hiện

Loạn thần trẻ em có thể có biến đổi hành vi tuy nhiên biểu hiện ở giai đoạn này thường là tính thiếu hòa hợp, cô độc thu mình cần phải tìm hiểu một số cấu trúc hội chứng để phân biệt.

2.6. Rối loạn lo âu

Các rối loạn lo âu sau stress về tâm lý, các biểu hiện lo âu chia ly, lo âu do áp lực học tập khó khăn, các biểu hiện sợ trường học…Lo âu có thể là rối loạn có biểu hiện tăng động và dễ đãng trí. Lo âu cũng có thể là triệu chứng thứ phát của tăng động giảm chú ý cần xác định thứ tự xuất hiện các rối loạn để phân tích và phân biệt khai thác kỹ bệnh sử sẽ thấy biểu hiện lâm sàng phát sinh sau các yếu tố tâm lý.

2.7. Rối loạn trầm cảm

Có thể là phản ứng thứ phát với thất bại trong học tập dẫn đến hậu quả tự ti. Trường hợp này cẩn phân biệt với trầm cảm tiên phát: ở đây rối loạn đặc trưng là giảm hoạt động, giảm sinh lực và thu mình.


3. Điều trị

- Dược lý: nhằm điều chỉnh hành vi, cải thiện một phần khả năng chú ý.

+ Có tác dụng với các triệu chứng: xung động, tăng hoạt động; rối loạn cảm xúc

+ Các thuốc có thể sử dụng:

            Methylphenidate (Concerta), dextroamphetamine …

            Venlafaxine có thể có hiệu quả.

            CTC 3 vòng

            Clonidine và guanfacine: có hiệu quả.

- Tâm lý: liệu pháp hành vi, phục hồi chức năng tâm thần vận động

+ Liệu pháp hành vi: thường hiệu quả Khi được sử dụng kết hợp với chế độ thuốc hiệu quả. Liệu pháp hành vi hay chương trình sửa đổi hành vi có thể giúp giảm bớt triệu chứng

+ Hỗ trợ từ gia đình, thày cô giáo, bác sỹ và nhà tâm lý

+ Đối với người lớn bị ADHD, liệu pháp lao động làm tăng tập trung chú ý và tăng cường kỹ năng tổ chức.

- Thay đổi môi trường (tác động xã hội qua lại, giấc ngủ, kiểm soát stress, chế độ ăn uống …).

- Điều trị các rối loạn đồng diễn

Ths Vũ Minh Hạnh


Đánh giá (Lượt bình chọn: )   
    Bình luận (0)        Gửi bạn bè        Bản in     Edit


Các tin khác:
Rối loạn giấc ngủ (08.06.2015)
Sa sút trí tuệ (07.10.2015)
Nhân ngày Thế giới nâng cao nhận thức về Tự kỷ (2.4) (04.02.2015)
Quản lý, chăm sóc và điều trị cho người bệnh tâm thần (08.20.2014)
Đại cương sức khỏe tâm thần (07.15.2014)
Phát hiện sớm chứng Tự kỷ (03.27.2014)
Trầm cảm ở người cao tuổi (01.19.2014)
Sức khỏe tâm thần người cao tuổi (09.30.2013)
Trầm cảm ở trẻ em (09.30.2013)
Rối loạn ám ảnh nghi thức (ám ảnh cưỡng bức) (07.31.2012)



 
::|Khu vực quản trị
User:
Pass:
Code
Remember me
::| Các tin mới nhất
::| Sự kiện
Tháng chín 2017  
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30